Xu hướng nhân đạo hóa trong Luật hình sự Việt Nam và sự thể hiện của xu hướng này qua các quy định thuộc Phần chung Bộ luật Hình sự năm 2015.

MỞ ĐẦU

Đấu tranh phòng chống tội phạm là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, việc đưa ra các chính sách hình sự đúng đắn, phù hợp là vô cùng cần thiết. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế cả về lĩnh vực pháp luật, Việt Nam ta cũng chịu nhiều ảnh hưởng từ nó trong đó có xu hướng nhân đạo hóa. Trong nhiều năm trở lại đây, xu hướng ấy lại càng trở nên mạnh mẽ hơn. Chính vì vậy, việc nghiên cứu xu hướng nhân đạo hóa trong Luật hình sự Việt Nam và sự thể hiện của xu hướng này qua các quy định thuộc Phần chung Bộ luật Hình sự năm 2015 là vô cùng cần thiết.

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

1.1.           Nhân đạo

Như chúng ta đều biết, nhân đạo luôn là một truyền thống quý báu của dân tộc ta, được trao truyền từ đời này qua đời khác. Nhân đạo là đạo đức thể hiện sự yêu thương, quý trọng và bảo vệ con người; là sự trợ giúp đầy tình người về vật chất, tinh thần, sức khỏe, trí tuệ cho những người kém may mắn trong xã hội; là chỉ số, thước đo của văn minh và sự tiến bộ xã hội. Giá trị của nhân đạo là giá trị về đạo đức của con người, về sự yêu thương, quý trọng và bảo vệ con người, giá trị của sự cảm thông, chia sẻ, nâng niu, trân trọng, đề cao phẩm giá con người.

Trong lĩnh vực luật hình sự, nhân đạo đã, đang và sẽ là một trong những nguyên tắc cơ bản của ngành luật này. Tuy nhiên, nội dung của nguyên tắc nhân đạo vẫn được hiểu theo nhiều cách khác nhau.

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, “nhân đạo” theo nghĩa chung được hiểu là: “Đạo đức. Thể hiện sự thương yêu, quý trọng và bảo vệ con người”. Như vậy, trong các quy định của BLHS, tư tưởng nhân đạo được hiểu là yêu cầu đối với các quy định phải thể hiện được tinh thần, thái độ thương yêu, quý trọng đối tượng chịu ảnh hưởng và bảo vệ đối tượng cũng như quyền và lợi ích chính đáng của đối tượng đó.

Đánh giá mức độ tôn trọng và bảo đảm nguyên tắc nhân đạo cần xem xét không chỉ từ góc độ tính hợp pháp của các quy định này với ý nghĩa là sự tuân thủ các quy định pháp luật hình sự liên quan mà chủ yếu từ góc độ tính hợp lí của các quy định đó biểu hiện qua thái độ của chủ thể áp dụng và đối tượng bị áp dụng quy định cũng như các quyền và lợi ích liên quan của họ có thể bị ảnh hưởng.

1.2.     Nhân đạo hóa

Từ cách hiểu về nhân đạo trong lĩnh lực hình sự ở trên thì có thể hiểu nhân đạo hóa là từ không nhân đạo hoặc nhân đạo ở mức độ thấp, vừa phải trở nên lan tỏa hơn, thể hiện rõ hơn và nhiều hơn theo một tiến trình phát triển. Nhân đạo hóa có nghĩa là một xu hướng, một định hướng không chỉ dừng lại ở hiện tại mà còn chắc chắn rằng sẽ tiếp tục được triển khai, phát triển trong tương lai

CHƯƠNG 2: XU HƯỚNG NHÂN ĐẠO HÓA TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

2.1.      Nhu cầu nhân đạo hóa trong luật hình sự Việt Nam

Xây dựng pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng luôn phải gắn liền với nội tại, mục đích, chính sách phát triển của đất nước và xu hướng trên thế giới, nhu cầu nhân đạo hóa trong luật hình sự Việt Nam cũng xuất phát từ đó, cụ thể bởi nguyên nhân như sau:

2.1.1.   Về nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, phải kể đến xu thế quốc tế hóa của pháp luật quốc gia nói chung và luật hình sự nói riêng. Điều đó đặt ra cho lập pháp hình sự Việt Nam phải có sự thích ứng để bắt nhịp và trở nên phù hợp với pháp luật hình sự thế giới. Dựa trên tinh thần học hỏi và cũng là để tự hoàn thiện chính mình nên trong bối cảnh hội nhập pháp luật hình sự nước ta đã có nhiều đổi mới. Trên thế giới, xu hướng nhân đạo đã hình thành tại một số quốc gia nhân quyền và đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Pháp luật nhân đạo quốc tế ngày càng có vị thế ảnh hưởng sâu rộng và buộc pháp luật các quốc gia phải nắm bắt để theo đuổi xu hướng tiến bộ này

Thứ hai, cũng liên quan đến pháp luật quốc tế đó là việc Việt Nam tiếp tục tham gia các tổ chức nhân đạo, các điều ước quốc tế về pháp luật nhân đạo và quyền con người. các tập quán nhân đạo quốc tế cũng được quan tâm nhiều hơn. Điều đó cũng đặt ra yêu cầu pháp luật Hình sự Việt Nam phải nội luật hóa các tinh thần đó để có sự phù hợp và đảm bảo nguyên tắc về hiệu lực của luật quốc tế.

2.1.2.   Về nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, về bản thân nguyên tắc nhân đạo là một nguyên tắc nhân văn, tiến bộ đã được các nhà làm luật nước ta ý thức sâu sắc và đưa vào chính sách nhân đạo của luật hình sự từ lâu. Vấn đề chỉ nằm ở quá trình phát triển của nó.

Thứ hai, cũng từ ý trên ta thấy rằng quá trình áp dụng nguyên tắc nhân đạo của pháp luật đã mang lại nhiều hiệu quả cho công tác phòng, chống tội phạm nên xu hướng khách quan sẽ là đề cao nguyên tắc ấy và ngày càng nhân đạo hóa trong việc xây dựng luật hình sự nước ta

Thứ ba, xét đến mục đích của pháp luật hình sự, đó là phòng chống “tội phạm” chứ không phải tiệt tiêu con người. Các biện pháp cưỡng chế hình sự ở mức độ nhẹ vẫn phát huy được hiệu quả, thực tế cho thấy rằng cảm hóa người phạm tội có thể dùng nhiều cách thức khác nhau, cứng rắn không hẳn bao giờ cũng có hiệu quả.

Thứ tư, xu hướng nhân đạo hóa đang được quan tâm nhiều hơn cũng là kết quả của quá trình đấu tranh trên nhiều mặt trận từ truyền thông đến các cuộc tranh luận trong giới khoa học để có thể đưa ra các hướng đi phù hợp cho xu hướng này.

Thứ năm, nhu cầu này cũng được hình thành một phần do nhu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, lấy làm luật làm gốc chứ không phải lấy vũ lực làm gốc. Thượng tôn pháp luật không có nghĩa là lạm dụng pháp luật mà bản chất của nó phải là pháp luật đáp ứng cho người dân, nhân đạo hóa thực thi điều đó.

Thứ sáu, chủ trương giảm hình phạt tù, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội được nêu trong Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng là cơ sở cho điều này.

2.2.     Xu hướng nhân đạo hóa trong luật hình sự Việt Nam

Đã là xu hướng thì có nghĩa là nhân đạo hóa ở trong luật hình sự Việt Nam đã trải qua một tiến trình từ thấp đến cao, từ khi luật hình sự xuất hiện đến hiện tại và tạo thành một xu hướng hay đà tiếp tục phát triển theo cái mạch ấy cho đến tương lai, cụ thể:

Bắt đầu từ Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật đã xuất hiện nhiều hơn trước đó những quy định thể hiện tinh thần nhân đạo của nhà nước lúc bấy giờ mặc dù mang bản chất giai cấp phong kiến nhưng Bộ luật Hồng Đức lại chứa đựng nhiều quy định của Bộ luật tập trung bảo vệ người dân chống lại sự ức hiếp, sách nhiễu của cường hào, quan lại. Điều luật đầu tiên đề cập đến vấn đề này là Điều 16, mà theo đó, những người phạm tội từ 70 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống và những kẻ phế tật (tức những kẻ si, câm, cơ thể què quặt, gẫy tay chân) phạm tội lưu, đồ trở xuống được chuộc bằng tiền; 80 tuổi trở lên, 10 tuổi trở xuống và những kẻ bệnh nặng (là những ác tật như điên cuồng, tay chân bại liệt, mù hai mắt) phạm tội phản nghịch, giết người, đáng lẽ phải xử tử thì trong trường hợp này phải tâu lên để vua quyết định. Những người này phạm tội trộm, đánh người bị thương thì cũng cho chuộc tội; 90 tuổi trở lên, 7 tuổi trở xuống, dù phạm tử tội cũng không áp dụng hình phạt. Hay về xử lý tội phạm, Điều 17 Bộ luật Hồng Đức còn lưu ý đến thời điểm phạm tội sao cho có lợi cho tội nhân khi áp dụng luật, theo đó “khi phạm tội chưa già, tàn tật. Khi già, tàn tật mới phát giác tội thì xử tội theo luật già, tàn tật…Khi còn nhỏ mà phạm tội, khi lớn mới phát giác tội thì xử tội theo luật tuổi nhỏ”.

  • Tuy nhiên, do tính chất thời đại nên pháp luật hình sự lúc bấy giờ vẫn còn khá nhiều hạn chế đối với quyền con người, các tội chịu án tử hình còn nhiều…

Tinh thần nhân đạo tiếp tục được cải thiện hơn tại thời kỳ sau đó nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, cụ thể: Từ khi mới thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, các văn bản pháp luật hình sự lúc bấy giờ có xu hướng xử lý nghiêm khắc hành vi phạm tội. Ví dụ, Sắc lệnh số 6 ngày 15/01/1946 quy định hành vi của những người phạm tội trộm cắp, hủy hoại dây điện thoại và điện tín bị xử phạt từ 01 năm đến 10 năm và có thể bị xử tử. Bộ luật Hình sự năm 1985 tiếp tục coi công trình thông tin liên lạc là công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia, do đó hình phạt cho hành vi phá hủy công trình, phương tiện thông tin liên lạc là hình phạt tù từ ba năm đến hai mươi năm, chung thân hoặc tử hình. Bộ luật Hình sự năm 1999 tiếp tục quy định hành vi phá hủy công trình hoặc phương tiện thông tin – liên lạc cũng bị xử phạt tù từ 03 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Đến Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hình phạt tử hình được xóa bỏ, không áp dụng cho hành vi phạm tội thuộc loại này nữa.

  • Như vậy có thể thấy, lịch sử lập pháp sau gần 70 năm, hình phạt tử hình đã được loại bỏ khỏi hành vi phạm tội phá hủy công trình, phương tiện thông tin – liên lạc. Điều này phần nào cho thấy xu hướng nhân đạo, hướng thiện, tôn trọng quyền được sống, một trong những quyền cơ bản của con người trong pháp luật hình sự Việt Nam.

Đến Bộ luật Hình sự năm 1985 có 29 điều luật trong tổng số 195 điều luật quy định về các tội phạm có quy định hình phạt tử hình (chiếm 14,87%). Sau bốn lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 1985 (lần thứ nhất ngày 28/12/1989, lần thứ hai ngày 12/8/1991, lần thứ ba ngày 22/12/1992 và lần thứ tư ngày 10/5/1997), số điều luật có hình phạt tử hình đã tăng lên 44 điều. Có thể thấy, giai đoạn 1985 đến 1997, xu hướng lập pháp hình sự có phần nghiêm khắc với việc ngày càng mở rộng hình phạt tử hình áp dụng cho các hành vi phạm tội, nhất là các tội phạm về ma túy.

Đến Bộ luật Hình sự năm 1999 đã tạo bước chuyển biến từ xu hướng trừng trị nghiêm khắc chuyển sang một giai đoạn thực hiện chính sách nhân đạo và hướng thiện bằng việc loại bỏ hình phạt tử hình ở nhiều điều luật. Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ còn 29 trong tổng số 263 điều có quy định hình phạt tử hình (chiếm tỷ lệ 11,02%).

Như vậy, xét về số lượng thì số điều luật có hình phạt tử hình của Bộ luật Hình sự năm 1999 bằng với số điều luật có hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự năm 1985 chưa sửa đổi, nhưng lại chỉ chiếm một tỷ lệ ít hơn rất nhiều (11,02% so với 14,78%).

Đến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999 ngày 21/12/2009 tiếp tục loại bỏ hình phạt tử hình ở 7 điều nữa, chỉ còn 22 điều có hình phạt tử hình.

Và cho đến hiện tại, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi năm 2017 đã thể hiện được mạnh mẽ tinh thần nhân đạo ấy, nội dung này sẽ được làm rõ sau đây.

 

CHƯƠNG 3: SỰ THỂ HIỆN CỦA XU HƯỚNG NÀY QUA CÁC QUY ĐỊNH THUỘC PHẦN CHUNG BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015

3.1.      Sự thể hiện của xu hướng này trong phần chung của Bộ luật Hình sự 2015

3.1.1.   Về nguyên tắc xem xét hiệu lực áp dụng

Chính sách nhân đạo và hướng thiện thể hiện rõ nhất trong Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự. Nghị quyết 41/2017/QH14 về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 100/2015/QH13 sửa đổi, bổ sung theo luật số 12/2017/QH14 quy định: “Các điều luật bổ sung hành vi phạm tội mới, các điều luật quy định một hình phạt mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới; các điều luật quy định hạn chế phạm vi miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội thì không áp dụng đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích; trong trường hợp này, vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 để giải quyết”.

Đây là một quy định bảo đảm tuân thủ nguyên tắc “Nullum crimen, nulla poena sine praevia lege poenali” (Không có tội khi không có luật). Ngược lại, đối với “ điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích”.

Công văn số 04/TANDTC-PC ngày 09/01/2018 của Tòa án nhân dân tối cao cũng chỉ rõ: Khi áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự, “nếu có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 để giải quyết”.

  • Như vậy, mặc dù Bộ luật Hình sự không có hiệu lực hồi tố, nhưng với chính sách nhân đạo, hướng thiện, cho phép áp dụng những quy định làm lợi cho bị can, bị cáo, những người được coi là yếu thế trong các quan hệ pháp luật hình sự.

3.1.2.  Về trách nhiệm hình sự

BLHS 2015 quy định thêm nhiều hơn các trường hợp được miễn TNHS đó là khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

Điều 18 Luật Hình sự quy định, miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho cha, mẹ nếu che giấu hành vi phạm tội của con mình ngoại trừ tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội đặc biệt nghiêm trọng. Có thể nói, giữa tình thân và sự an nguy quốc gia, sự ổn định của xã hội thì nhà nước đã có quy định điều tiết phù hợp. Cha mẹ có thể che giấu nhưng khi hành vi của con mình phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc làm tổn hại đến an ninh quốc gia thì việc che giấu sẽ không được chấp nhận, hình phạt cho hành vi này có thể bị phạt tù tối đa tới 7 năm.

3.1.3.  Về hình phạt

Nghị quyết số 41/2017/QH14 cũng nhấn mạnh: Nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người đó đã bị kết án và đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

Đối với hình phạt tử hình, BLHS 2015 đã loại bỏ hình phạt tử hình ở 8 tội danh quy định tại 7 điều luật và chỉ còn giữ hình phạt tử hình trong 18 điều luật trong tổng số 314 điều quy định về các tội phạm (chiếm 5,73%). Đồng thời mở rộng phạm vi đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình: khi xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử. Đối với những tội danh mà BLHS 2015 đã bỏ hình phạt tử hình thì không áp dụng hình phạt này đối với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử. Trường hợp đã tuyên hình phạt tử hình nhưng chưa thi hành thì không thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để ra quyết định chuyển hình phạt tử hình sang tù chung thân. Cùng với đó là mở rộng phạm vi đối tượng không bị thi hành hình phạt tử hình thêm 02 trường hợp: người bị kết án là người tử đủ 75 tuổi trở lên và người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn. Những trường hợp này, hình phạt tử hình chuyển thành hình phạt tù chung thân.

  • Những sửa đổi này cho thấy một nỗ lực rất lớn trong chính sách pháp luật hình sự Việt Nam theo xu hướng nhân đạo, nhân văn và hướng thiện, giảm tối đa các tội phạm có mức phạt tử hình, bảo đảm tính mạng, quyền được sống của mỗi cá nhân trong xã hội.

Về tha tù trước thời hạn, đây là một chế định hoàn toàn mới được bổ sung vào BLHS 2015 thể hiện rất rõ xu hướng nhân đạo, nhân văn, hướng thiện. Với quy định này, lần đầu tiên pháp luật hình sự mở thêm cơ hội cho những người bị xử phạt tù được trở về với cộng đồng, với xã hội sớm hơn so với mức hình phạt đã tuyên. Đây là một biện pháp được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới với các tên gọi như phóng thích có điều kiện hay trả tự do có điều kiện. Có thể nói, tuy trong pháp luật hình sự của các nước này quy định nhưng điều kiện, phạm vi, thể thức cũng như tính chất và thời hạn áp dụng là khác nhau.

Mặc dù điều luật quy định khá nhiều điều kiện để được hưởng chế định này, tuy nhiên, các điều kiện đều khá hợp lý và nhìn chung không khó để đạt được các yêu cầu này. Do vậy, phạm vi được hưởng các chế định này là rất rộng rãi. Điều đó đồng nghĩa với việc sẽ có một số lượng lớn các phạm nhân sẽ được hưởng chế định rất nhân đạo, nhân văn và mang tính hướng thiện này để sớm được trở về với gia đình, tái hòa nhập cộng đồng. Điều này cũng đồng nghĩa với việc phạm nhân sẽ phải tích cực cải tạo tốt hơn và cần phải có ý thức trách nhiệm cao hơn trong việc khắc phục các hậu quả do hành vi phạm tội gây ra.

3.1.4.  Các vấn đề liên quan đến người dưới 18 tuổi

Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, các tiêu chuẩn quốc tế yêu cầu các Quốc gia thành viên phải quy định một độ tuổi mà dưới tuổi đó trẻ em không đủ năng lực pháp lý để vi phạm pháp luật hình sự. Ủy ban Quyền Trẻ em khuyến nghị mạnh mẽ rằng độ tuổi hợp lý chịu trách nhiệm hình sự là từ 14 đến 16 tuổi. Hiện nay, Việt Nam là một trong ít các quốc gia tại Đông Á và Thái Bình Dương có quy định phù hợp với khuyến nghị này. Luật pháp Việt Nam quy định độ tuổi tối thiểu chịu trách nhiệm hình sự theo một vài mức độ, theo đó trẻ em đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, và trẻ em từ 14 đến 16 tuổi có thể phải chịu trách nhiệm hình sự đối với một số tội danh. Theo đó, phạm vi chịu TNHS của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đã được thu hẹp đáng kể. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu TNHS rất hạn chế về một số tội rất đặc thù.

Về hình phạt, BLHS 2015 cũng bổ sung nguyên tắc quan trọng “Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa”.

  • Đây là một quy định tiến bộ vượt bậc, cho thấy chính sách rõ ràng là chỉ áp dụng hình phạt tù như là biện pháp cuối cùng khi có đầy đủ căn cứ cho rằng các biện pháp khác không phát huy được tác dụng. Đây là nguyên tắc rất quan trọng giúp họ có cơ hội tối đa không bị tách khỏi gia đình và cộng đồng; có nhiều hơn cơ hội nhận được sự giúp đỡ chân tình, quý báu của gia đình, cộng đồng và xã hội để họ sớm nhận ra lỗi lầm, sớm trở thành người có ích cho xã hội.

Điều này là hoàn toàn hợp lý bởi nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng do trẻ em còn đang trong giai đoạn phát triển, việc gán cho trẻ em và đối xử với trẻ em như những tội phạm ở độ tuổi nhỏ có thể tác động tiêu cực nghiêm trọng đến sự phát triển và khả năng cải tạo, phục hồi thành công của trẻ. Bằng chứng cho thấy đưa trẻ em vào tù là không hiệu quả trong việc giáo dục, phục hồi và phòng ngừa tái phạm, do đó luật pháp không cần phải hà khắc hơn nữa. Đồng thời dựa trên tinh thần đáp ứng các nguyên tắc của Công ước của Liên hợp quốc (LHQ) về quyền trẻ em. Điều 37 Công ước về quyền trẻ em là việc bắt, giam giữ hay bỏ tù trẻ em chỉ được dùng đến như một biện pháp cuối cùng và trong thời hạn thích hợp ngắn nhất.

3.2.     Hướng tiếp tục hoàn thiện

Trong xu thế hội nhập quốc tế, pháp luật hình sự Việt Nam vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng:

  • Tiếp tục nghiên cứu để bỏ án tử hình: quyền sống là quyền tối cao, thiêng liêng nhất của mỗi người. Đây cũng là quyền quan trọng mà hầu hết các quốc gia đều tôn trọng triệt để. Chính từ quan điểm này, hơn mười năm qua, rất nhiều quốc gia đã dần xóa bỏ hình phạt tử hình. Giai đoạn vừa qua, đã có 105 quốc gia bãi bỏ án tử hình, 38 nước không áp dụng hình thức này hơn 10 năm qua và chỉ còn 58 nước vẫn đang áp dụng án tử hình. Những nước đã bỏ hình phạt tử hình cho thấy tỷ lệ tội phạm không cao hơn các nước khác đang có hình phạt tử hình mà thậm chí còn ngược lại: tỷ lệ tội phạm ở các nước này đang thấp hơn nhiều so với các nước vẫn đang duy trì hình phạt tử hình. Điều này cho thấy một xu hướng khó cưỡng lại, đó là xu hướng loại bỏ hình phạt tử hình. Mặc dầu vẫn có những quan điểm đề xuất tiếp tục duy trì hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, cần hết sức hạn chế quy định hình phạt tử hình trong các tội danh cũng như hạn chế tối đa việc áp dụng hình phạt tử hình trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nhằm bảo đảm tôn trọng tối cao công ước của Liên hợp quốc.
  • Cùng với đó là tăng cường hướng dẫn áp dụng các quy định của BLHS 2015 và nâng cao đạo đức, trách nhiệm của các chủ thể áp dụng pháp luật.

KẾT LUẬN

Như vậy, có thể thấy rằng xu hướng nhân đạo hóa đã hình thành và đang được tiếp thu, mở rộng khá mạnh mẽ trong pháp luật hình sự Việt Nam, nó thể hiện rõ ràng đầy sự tiến bộ trong các quy định của phần chung BLHS 2015. Điều đó phù hợp với thời đại và xu hướng chung của pháp luật quốc tế và chứng minh được hiệu quả trên thực tiễn. Mặc dù vậy, pháp luật hình sự nước ta vẫn cần tiếp tục học hỏi để hoàn thiện và phát huy được huy hướng này hơn nữa trong tương lai, hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền con người nói chung.

Mọi chi tiết vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn;

CÔNG TY LUẬT TNHH NĂNG & PARTNER – Hotline: 0986.799.399; 0886.799.399

Website: dnlawfirm.com.vn

Email: ducnanglawfirm@gmail.com

Facebook: https://www.facebook.com/dnlawfirm.com.vn

Văn phòng tại Hà Nội: Số 22 đường Nguyễn Khang, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội

Chi nhánh tại Thái Nguyên:  Số 360/1 Đường Bắc Kạn. Thành phố Thái Nguyên;

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Translate »