Cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu trong pháp luật Việt Nam.

MỞ ĐẦU

Giao dịch dân sự vô hiệu là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự Việt Nam. Việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả của nó luôn là vấn đề phức tạp, trong đó cần thiết bảo vệ quyền lợi hợp pháp cũng như sự cân bằng về lợi ích cho các chủ thể. BLDS 2015 đã có sự đổi mới, kịp thời điều chỉnh một cách phù hợp hơn trong bối cảnh hiện đại. Từ đó, việc nghiên cứu cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu trong pháp luật Việt Nam cả về mặt lịch sử, nội dung và ý nghĩa của nó càng trở nên cần thiết.

NỘI DUNG

1.     Một số vấn đề chung

1.1Về giao dịch dân sự vô hiệu

Về định nghĩa, Theo BLDS Điều 122 thì giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu.

Theo đó, hệ quả khi tuyên bố giao dịch dân sự được Điều 131 BLDS 2015 xác định như sau: giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập. Các bên xác lập giao dịch dân sự vô hiệu trở lại tình trạng trước khi giao dịch được xác lập, giao dịch coi như không tồn tại[1].

1.2 Về người thứ ba ngay tình

Về khái niệm, để làm rõ đề tài này thì trước hết cần hiểu đúng bản chất người thứ ba ngay tình. Có quan điểm cho rằng người thứ ba trong giao dịch dân sự là: “Trong quan hệ dân sự, người các chủ thể hoặc người đại diện, người được ủy quyền tham gia giao dịch, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Đó là người thứ ba trong quan hệ dân sự”[2]. Người ở đây cần hiểu là cá nhân và các chủ thể khác như pháp nhân, hộ gia đình. Vậy như thế nào thì được coi là “ngay tình”.

Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì được hiểu là “người được chuyển giao tài sản thông qua giao dịch dân sự mà họ không biết, không buộc phải biết là tài sản đó do người chuyển giao cho họ thu được từ một giao dịch dân sự vô hiệu”. Như vậy, hiểu một cách đơn giản ngay tình là không biết và không buộc phải biết tài sản họ giao dịch là đối tượng của một giao dịch vô hiệu trước đó.

  1. Lịch sử quy định của pháp luật Việt Nam về cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình.

Lần đầu thuật ngữ “vô hiệu” xuất hiện trong pháp luật Việt Nam khi quy định về xử lý hợp đồng vô hiệu trong Pháp lệnh về Hợp đồng dân sự nhưng chưa đề cập đến vấn đề bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình.

Lần đầu tiên vấn đề người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự được nhắc đến tại Điều 147 BLDS 1995 và chỉ đưa ra hai khả năng là được công nhận giao dịch, được sở hữu tài sản đó; hoặc không được công nhận giao dịch, được bồi thường thiệt hại; các quy định thì đang nghiêng về bảo vệ tuyệt đối chủ sở hữu. Người thứ ba ngay tình chỉ được bảo vệ trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã chuyển giao cho người thứ ba ngay tình. Thứ hai, nếu tài sản đó bị sung công thì người thứ ba có quyền yêu cầu người chuyển giao tài sản bồi thường thiệt hại. Thứ ba, nếu chủ sở hữ chưa được bồi thường thiệt hại mà phát hiện tài sản của mình đang bị người thứ ba ngay tình chiếm hữu thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu người thứ ba trả lại tài sản và người thứ ba có quyền yêu cầu người chuyển giao tài sản bồi thường thiệt hại.

Khắc phục những bất cập trên, BLDS 2005 đã bổ sung các quy định về bảo vệ người thứ ba ngay tình trong các điều 138, 256, 257 và 258. Theo đó, người thứ ba ngay tình có được tài sản thông qua giao dịch có đền bù thì không phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu.

Tiếp tục hoàn thiện ở BLDS 2015 theo quy định tại điều 133 và 167 về quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. Thể hiện một số điểm mới như sau:

Thứ nhất, quy định rộng hơn về đối tượng giao dịch khi thay thế “động sản không phải đăng ký” bằng “tài sản không phải đăng ký”.

Thứ hai, quy định giao dịch của người thứ ba ngay tình không bị vô hiệu trong trường hợp tham gia vào giao dịch tài sản phải đăng ký mà giao dịch trước đó đã được thực hiện đăng ký để bảo vệ tốt hơn cho người thứ ba ngay tình tuy nhiên chưa quy định rõ nếu giao dịch về tài sản phải đăng ký trước đó chưa được thực hiện đăng ký thì giao dịch đó của người thư ba ngay tình bị coi là vô hiệu?

Thứ ba, quy định chủ sỡ hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình là một quy định hoàn toàn mới khi liên quan đến đối tượng giao dịch cùng là một tài sản. Tuy nhiên quy định này rõ ràng có lợi hơn cho người thứ ba ngay tình!

3.     Nội dung cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

3.1 Điều kiện của cơ chế

Trước khi người thứ ba tham gia vào giao dịch thì đã có một giao dịch được xác lập và thực hiện nhưng giao dịch đó vô hiệu. Đối tượng của giao dịch vô hiệu đó không còn thuộc sở hữu của các chủ thể xác lập giao dịch mà đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thông qua một giao dịch khác.

Đồng thời ý chí của người thứ ba: buộc người thứ ba phải ngay tình tức là không biết và không buộc phải biết người chuyển giao tài sản cho họ không có quyền định đoạt tài sản, không biết giao dịch của mình có thể bị vô hiệu.

3.2 Cơ chế bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu.

Về cơ bản, người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự vô hiệu sẽ được bảo vệ trong hai trường hợp:

Thứ nhất, chủ sở hữu được đòi lại tài sản theo các điều kiện luật định thì người thứ ba ngay tình được yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại từ người trực tiếp chuyển giao tài sản cho mình. Tuy nhiên thực tế không dễ thực hiện bởi họ cần tìm được người đã chuyển giao cho mình đồng thời người đó phải có khả năng tài chính và tự nguyện thực hiện nghĩa vụ. Ngoài ra, người thứ ba ngay tình được hưởng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu đến thời điểm phải hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu và được thanh toán những chi phí đã bỏ ra để làm tăng giá trị tài sản.

Thứ hai, chủ sở hữu đich thực sẽ không có quyền đòi lại tài sản trong hai trường

hợp: Không đáp ứng điều kiện về đòi tài sản theo luật định và người thứ ba ngay tình được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Khi đó, người thứ ba ngay tình được công nhận là chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản đang chiếm hữu.

Đánh giá khách quan thì phương thức thứ hai sẽ bảo vệ ưu việt và khả thi nhất so với trường hợp thứ nhất.

Cơ chế ấy được BLDS 2015 quy định như sau: Về nguyên tăc thì sự vô hiệu của giao dịch dân sự có tác dụng thủ tiêu các quyền của người thứ ba có nguồn gốc từ các quyền được xác lập theo giao dịch vô hiệu (ngoại lệ đối với người thứ ba ngay tình), cụ thể trong các trường hợp sau giao dịch của người thứ ba ngay tình sẽ không bị vô hiệu:

Trường hợp tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực (trừ khi người thứ ba ngay tình chiếm hữu được động sản thông qua hợp đồng không có đề bù với người không có quyền định đoạt tài sản). Nếu là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.

Trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản/động sản phải đăng ký và đã đăng ký, sau đó chuyển giao bằng một giao dịch khác với người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba không vô hiệu.

Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa đăng ký thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản đó thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể đó không phải chủ sở hữu do bản án, quyết định bị hủy, sửa.

Như vậy, trong các trường hợp nêu trên, giao dịch dân sự được xác lập với  người thứ ba sẽ không vô hiệu, không có bất lợi nào ảnh hưởng đến họ. Đây là cơ chế mà pháp luật quy định để bảo vệ họ và là hệ quả của giao dịch dân sự đối với riêng người thứ ba ngay tình. 

4.        Ý nghĩa của cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

Để cân bằng sự xung đột lợi ích giữa chủ sở hữu với người thứ ba ngay tình, BLDS 2015 quy định thể hiện sự tiến bộ trong vấn đề này. Ý nghĩa của nó được thể hiện như sau:

Thứ nhất, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể tham gia giao dịch một cách ngay tình, họ không thể biết rằng giao dịch mình tham gia có thể bị vô hiệu vì họ tin tưởng người xác lập giao dịch với mình là chủ sở hữu đích thực. Việc bảo vệ họ là điều tất yếu bởi nếu tuyệt đối hóa quyền được đòi lại tài sản của chủ sỡ hữu thì có thể tạo ra tâm lý e dè, lo sợ của chủ thể khác khi quyết định thực hiện một giao dịch dân sự, vô dình chung tạo ra rào sản cho sự thúc đẩy giao lưu dân sự. Điều 173 BLD Liên Bang Nga quy định nếu bên đối tác không biết/hông thể biết người xác lập giao dịch vượt quá phạm vi hoạt động của mình thì giao dịch không vô hiệu.

Thứ hai, bảo vệ ổn định trật tự xã hội, trật tự giao dịch dân sự, thúc đẩy phát triển xã hội. Các giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến người thứ ba ngay tình không phải ít, nếu chủ thể ngay tình đó không được bảo vệ sẽ dẫn đến sự sáo trộn một cách không cần thiết trong cơ chế sở hữu tài sản giữa các chủ thể, các giao dịch với người thứ ba nếu đều vô hiệu thì việc giải quyết hậu quả vô hiệu là vô cùng phức tạp với một loạt các nghĩa vụ hoàn trả và bồi thường. Đồng thời, hạn chế tranh chấp phát sinh và keo dài giữa chủ sở hữu đích thực và người thứ ba ngay tình.

KẾT LUẬN

Như vậy, bỏ qua một số bất cập của quy định hiện hành như chưa có định nghĩa chính thức về người thứ ba ngay tình hay trong việc xác lập quyền sở hữu đối với tài sản có được từ phiên đấu giá thì BLDS 2015 đang điều chỉnh quyền lợi của người thứ ba ngay tình khá chọn vẹn. Mặc dù vậy, việc bảo vệ người thứ ba ngay tình cần phải áp dụng chặt chẽ để chủ sở hữu đích thực của tài sản không phải chịu thiệt hại một cách không công bằng. Theo đó, Tại Điều 133 Khoản 3 thì chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình nếu giao dịch không bị vô hiệu theo khoản 2 điều này nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc đó phải hoàn trả chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.

Mọi chi tiết vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn; CÔNG TY LUẬT TNHH NĂNG & PARTNER

– Hotline: 0986.799.399; 0886.799.399

Website: dnlawfirm.com.vn

Email: ducnanglawfirm@gmail.com

Facebook: https://www.facebook.com/dnlawfirm.com.vn

Văn phòng tại Hà Nội: Số 22 đường Nguyễn Khang, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội

Chi nhánh tại Thái Nguyên: Số 360/1 Đường Bắc Kạn. Thành phố Thái Nguyên;

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Translate »