Hợp đồng mua bán tài sản là một trong những loại hợp đồng thông dụng, phổ biến nhất trong xã hội ngày nay. Hợp đồng mua bán tài sản được thực hiện ngay sau khi các bên thỏa thuận xong về đối tượng và giá cả- bên mua trả tiền xong thì bên bán chuyển giao vật cho bên mua. Hợp đồng mua bán là phương tiện pháp lý tạo điều kiện cho công dân, tổ chức trao đổi hàng hóa, thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng, sản xuất kinh doanh.

Hợp đồng mua bán là gì?
Điều 430 Bộ luật dân sự 2015 định nghĩa:
“Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.”
Đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản
Căn cứ theo quy định tại Điều 431 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản như sau:
“1. Tài sản được quy định tại Bộ luật này đều có thể là đối tượng của hợp đồng mua bán. Trường hợp theo quy định của luật, tài sản bị cấm hoặc bị hạn chế chuyển nhượng thì tài sản là đối tượng của hợp đồng mua bán phải phù hợp với các quy định đó.
2. Tài sản bán thuộc sở hữu của người bán hoặc người bán có quyền bán”
Như vậy, đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản gồm:
– Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa phải được phép giao dịch. Đối với các loại tài sản bị cấm, không được phép giao dịch như ma túy, vũ khí, chất nổ,…thì các bên không được phép xác lập, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa đối với những loại tài sản đó. Hợp đồng mua bán hàng hóa dựa trên cơ sở thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh tạo điều kiện phát triển kinh tế, xã hội. Những loại tài sản theo quy định của pháp luật bị cấm không được phép giao dịch là những tài sản có thể gây nguy hiểm cho đời sống, sức khỏe của chủ thể, gây ảnh hưởng đến lợi ích của cộng đồng, quốc gia, dân tộc.
– Đối tượng bị hạn chế chuyển nhượng thì phải tuân thủ theo quy định của pháp luật. Đối với những loại tài sản bị hạn chế chuyển nhượng pháp luật quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục,…Như vậy, để xác lập hợp đồng mua bán tài sản có đối tượng bị hạn chế chuyển nhượng, các chủ thể phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, số lượng,…mà pháp luật quy định.
– Tài sản phải thuộc quyền sở hữu của bên bán hoặc bên bán có quyền bán. Để tài sản được chuyển giao hợp pháp, thì bên chuyển giao phải có quyền đối với tài sản đó. Chuyển giao tài sản là hình thức thực hiện quyền định đoạt tài sản mà chỉ chủ sở hữu mới có thể thực hiện. Pháp luật trao cho chủ sở hữu tài sản quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình. Theo đó, chủ sở hữu có thể tự mình định đoạt tài sản bằng cách bán tài sản cho người khác, hoặc có thể trao quyền đó cho một chủ thể khác. Chủ thể được chủ sở hữu chuyển giao quyền có quyền bán tài sản không thuộc sở hữu của mình mà không bị xem là vi phạm pháp luật, và hợp đồng mua bán tài sản đó vẫn có hiệu lực pháp luật.
– Tài sản mua bán phải được xác định. Như đã phân tích ở trên, tài sản của hợp đồng mua bán có thể là vật hoặc quyền tài sản nhưng phải được xác định rõ, tránh việc xảy ra tranh chấp sau này. Nếu đối tượng là vật thì phải xác định về mặt số lượng, đặc điểm, chất lượng,…Nếu đối tượng là quyền tài sản thì phải được xác định thông quan giấy chứng nhận quyền, hoặc bằng chứng chứng minh bên bán có quyền tài sản đó.
Giá trong hợp đồng mua bán
Căn cứ theo quy định tại Điều 433 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
– Giá trong hợp đồng mua bán là lượng tiền nhất định do các bên thỏa thuận tương ứng với giá trị của tài sản bán hoặc tương ứng với giá trị của một đơn vị hàng hóa trong tài sản đem bán. Giá cả trong hợp đồng mua bán tài sản phụ thuộc vào chất lượng, chủng loại, tính năng, công dụng của vật bán, ngoài ra còn phụ thuộc vào quan hệ cung – cầu hoặc vị trí “độc tôn” của tài sản trong thị trường.
– Giá cả trong hợp đồng mua bán tài sản thường do các bên thỏa thuận hoặc có thể do người thứ ba xác định theo yêu cầu của các bên. Khi các bên thoả thuận về giá thì có thể thỏa thuận về mức giá cụ thể hoặc thỏa thuận về một phương pháp xác định giá. Khi các bên yêu cầu người thứ ba xác định giá thì người xác định giá phải là người có chức năng thẩm định giá và giá của tài sản được xác định thông qua Chứng thư thẩm định giá. Các bên cũng có thể thoả thuận giá bán tài sản được xác định theo giá thị trường tại địa điểm và thời điểm thanh toán.
– Khi thỏa thuận giá cả các bên có thể thỏa thuận hệ số trượt giá nếu có biến động về giá.
– Riêng đối với các tài sản mà Nhà nước đã quy định khung giá thì các bên chỉ được thoả thuận về giá cả trong phạm vi khung giá đó. Theo đó, đối với tài sản mà Nhà nước đã quy định khung giá sàn (giá tối thiểu) thì các bên không được mua bán thấp hơn giá đó. Chẳng hạn, giá tối thiểu trong khung giá chuyển quyền sử dụng đất đã được ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định. Đối với tài sản mà Nhà nước đã quy định giá trần (giá tối đa) thì các bên không được mua bán cao hơn giá đó.
Phương thức thanh toán trong hợp đồng mua bán
Căn cứ theo quy định tại Điều 433 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
Phương thức thanh toán trong hợp đồng mua bán tài sản do các bên thỏa thuận. Các bên có thể thỏa thuận việc thanh toán phải được thực hiện một lần hay nhiều lần, vào một thời điểm hay trong một thời hạn nhất định, bằng tiền mặt hay chuyển khoản, trả trực tiếp cho người bán hay thông qua người thứ ba…
Thời hạn thực hiện hợp đồng mua bán
Căn cứ theo quy định tại Điều 434 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
– Đối với những tài sản mua bán là vật trao tay, thông thường bên bán và bên mua cùng thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau: người mua trả tiền, đồng thời người bán giao vật. Ngoài ra, thời hạn thực hiện hợp đồng mua bán thường được các bên thỏa thuận và xác định trong hợp đồng. Theo đó, bên bán phải giao tài sản cho bên mua theo đúng thời hạn đã thỏa thuận. Bên bán chỉ được giao tài sản trước hoặc sau thời điểm đã thoả thuận nếu được sự đồng ý của bên mua. Nếu các bên không thỏa thuận thời hạn giao tài sản, thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán giao tài sản và bên bán cũng có quyền yêu cầu bên mua nhận tài sản vào bất cứ lúc nào nhưng bên yêu cầu phải báo trước cho bên kia một khoảng thời gian hợp lý.
– Bên mua phải thanh toán cho bên bán tiền mua tài sản theo thời hạn đã thỏa thuận. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận về thời hạn thanh toán, thì bên mua phải thanh toán cho bên bán ngay tại thời điểm nhận tài sản.
– Nếu trong hợp đồng mua bán tài sản, các bên không thoả thuận về việc bên nào thực hiện nghĩa vụ trước thì bên bán phải giao tài sản và bên mua phải trả tiền vào cùng một lúc. Nếu việc giao tài sản bán cần phải thực hiện trong một thời gian kéo dài thì bên bán phải giao tài sản trước, bên mua phải thanh toán ngay sau khi nhận đủ tài sản.
Phương thức giao tài sản mua bán trong hợp đồng mua bán
Căn cứ theo quy định tại Điều 434 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
– Phương thức giao tài sản do các bên thỏa thuận tuỳ thuộc vào tính chất của tài sản. Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về phương thức giao tài sản, thì bên bán giao tài sản trong một lần và trực tiếp cho bên mua.
– Địa điểm thực hiện hợp đồng mua bán:
Địa điểm thực hiện hợp đồng mua bán do các bên thỏa thuận. Nếu các bên không thỏa thuận về địa điểm thực hiện hợp đồng thì địa điểm thực hiện hợp đồng mua bán được xác định như sau:
+ Nếu tài sản mua bán là bất động sản thì địa điểm giao tài sản là nơi có bất động sản đó.
+ Nếu tài sản mua bán là động sản thì địa điểm giao tài sản là nơi cư trú hoặc trụ sở của bên mua.
+ Địa điểm thanh toán là nơi cư trú hoặc trụ sở của bên bán./.
Mọi chi tiết vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn;
CÔNG TY LUẬT TNHH NĂNG & PARTNER – Hotline: 0986.799.399; 0886.799.399
Website: dnlawfirm.com.vn
Email: ducnanglawfirm@gmail.com
Facebook: https://www.facebook.com/dnlawfirm.com.vn
Văn phòng tại Hà Nội: 22 đường Nguyễn Khang, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Chi nhánh tại Thái Nguyên: Số 360/1 Đường Bắc Kạn. Thành phố Thái Nguyên;
Chi nhánh tại Hải Phòng: Tầng 9, tòa nhà Đông Phương, Lô 26BC đường Lê Hồng Phong, phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
